Quyển 2: Bức tranh ước mơ của tuổi trẻ (chap 1)
Trời hôm nay xanh thật!
Ông mặt trời vừa thức dậy đã phủ sáng cả một vùng nước trước mắt tôi khiến nó phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ đang tỏa ra hơi ấm dịu nhẹ. Như mọi khi, giờ này chỉ có mình tôi ngồi lọt thỏm giữa đám cỏ lau ven bờ. Tôi thích cái sự cô đơn này, không phải vì nó lãng mạn, mà vì nó là lúc duy nhất tôi không phải nghe ai đó cằn nhằn về ba cái rắc rối chết tiệt cứ đeo bám mình suốt cả ngày.
Tôi nheo mắt, đưa cây cọ lên căn tỉ lệ theo thói quen, rồi nhanh chóng phết những nhát màu đầu tiên để bắt lấy sự phản chiếu của bầu trời trên mặt nước. Ba cái lo âu cũng là do cái tính tự ti của tôi mà tự rước vào thân chứ đâu.
Thứ nhất là... tôi đã quay lại thực hiện ước mơ ban đầu là họa sĩ. Ôi, Thật khó chịu khi không thể gọi tên chính xác những mảng màu đang nhảy múa ngoài kia. Trước mắt tôi là một sự hỗn loạn đầy tính toán: những gam màu va đập, cào xé rồi lại hòa quyện vào nhau tạo nên một cảnh trí thanh nhã. Kia rồi, vệt sáng rực rỡ nhất trong ngày cùng với cánh én vừa chạm xuống mặt nước! Ngay lập tức tôi vớ lấy tuýp màu vàng chanh, cố gắng bắt trọn khoảnh khắc ấy trên mặt hồ yên ả. Nhưng chỉ một tích tắc mất tập trung, tay tôi run lên, một mảng màu quá đậm chát chúa đè bạt lên lớp màu nền trong trẻo. Thế là lại hỏng. Tôi vội dùng bay gạt màu đi nhưng chỉ khiến mặt toan trở nên lem nhem, bết dính như một vũng bùn.
Lo âu đầu tiên: một năm liền tôi chưa tìm được cảm hứng vẽ tranh khiến tôi phải... chấp nhận sự thật rằng mình đang chạy theo cái bóng của quá khứ hoàn hảo mà mình từng có.
Tôi dọn dẹp giá vẽ và chạy về phía bãi đậu xe (thực ra là khoảnh đất hoang đầy cỏ lau mọc cao đến ngang thân một người lớn). Nấp trong lùm cỏ rậm rạp, tôi vội vã cởi bỏ chiếc áo tạp dề nhem nhuốc những vệt màu vẽ chưa kịp khô để thay bằng bộ đồng phục học sinh trắng phau. Những vệt màu xanh, đỏ bám trên kẽ tay tôi dường như vẫn còn đang nhảy múa, tương phản một cách kỳ lạ với nếp áo phẳng phiu vừa mới mặc vào.
Một vùng đất hoang vu ven hồ như nơi đây quả là địa điểm lý tưởng cho những người tìm kiếm sự yên bình, ơi những cơn gió phóng khoáng ùa vào như muốn gột rửa sạch thực tại ngột ngạt, rồi len lỏi vào sâu tâm hồn. Gần như trong chớp mắt, mái tóc có phần hơi dài và bết bát mồ hôi của tôi đã được gió hong khô, để chúng tự do tung bay lòa xòa trước trán. Những vệt màu trên kẽ tay cũng kịp se lại, không còn dính dấp, như thể đang cố cùng tôi chôn giấu bí mật vừa rồi. Tôi cúi đầu, nhìn xuống tấm áo trắng đang in những cái bóng cao lêu nghêu, gầy nhom của mấy nhành cỏ lau đang rung rinh theo gió, rồi phóng tầm mắt ra phía xa.
Tôi yêu vẽ. À, thực ra tôi chỉ yêu vẽ trong hai phần tư thời gian mà thôi, hai phần tư còn lại tôi dành để tự hỏi tại sao mình lại đánh đổi những giờ phút được nhắm mắt thư thái trong chăn ấm để đổi lấy việc đứng đây nheo mắt vật lộn với mớ sắc màu này, trong khi có thể nằm ngủ nướng thêm một chút ở nhà.
Một tiếng gọi quen thuộc vang lên khi tôi đang thu dọn đống họa cụ lỉnh kỉnh. Tôi liền quắp lấy giá vẽ cùng cái túi mà chạy về phía xe của chị hai. Hôm nay chị mặc bộ áo choàng linen rộng bản màu trắng ngà trông chẳng khác gì một họa sĩ thực thụ, vừa thấy tôi chị liền nhấc kính lên mà hỏi:
"Hiền hôm nay sao rồi?"
Chị hai thật là đẹp. Vẻ đẹp của chị đến từ làn tóc suôn dài tự nhiên cùng nét điềm tĩnh sắc sảo đầy học thức. Chị hai lớn hơn tôi chín tuổi. Haiz, thú thật là hồi đó tôi khá là... bực mình với chị vì hầu như lúc nào tôi cũng bị mang ra để so sánh với một người chị quá hoàn hảo thế này, nên tôi đã theo con đường nghệ thuật này giống chị để chứng minh bản thân mình hơn đại loại thế. Nhưng dĩ nhiên lớn lên thì khác.
Tôi bắt đầu mến chị nhiều hơn, nhất là khi chị đã quyết định ở lại vùng quê này dạy học càng khiến tôi khâm phục chị hơn. Mỗi khi nhìn chị hai, tôi lại thầm nghĩ, cái gu của chị em tôi đúng là hai thái cực hoàn toàn đối lập. Trong khi tôi tôn thờ sự tự do đến mức có phần lếch thếch với chiếc tạp dề nhem nhuốc và mái tóc rối bù, thì chị hai ngay cả khi đóng vai một họa sĩ vẫn toát lên sự chỉn chu đến đáng ghét. Chiếc áo linen của chị dù có vài vệt màu nhưng vẫn phẳng phiu, thanh nhã một kiểu như họa như thơ, chẳng bù cho bộ dạng như vừa bước ra từ trong cơn mê. Nó hợp với chị hơn nhiều so với những bộ đồng phục giáo viên cứng nhắc, kín cổng cao tường mà chị phải mặc lên lớp mỗi ngày. Tôi luôn muốn chị phải rực rỡ hơn, phải mặc những chiếc váy khoe trọn nét sắc sảo kia, nhưng chị thì khác. Haiz, tính chị khiêm nhường từ nhỏ, còn tôi thì cứ loay hoay trong việc định hình bản thân, đứng giữa ranh giới của một kẻ từng từ bỏ ước mơ và giờ thì là một tâm hồn khao khát có được nó.
"Hôm nay cũng không được, lại bị lem màu ra nữa rồi!". Tôi vừa nói vừa đẩy tấm toan vào thùng xe hơi thô bạo một chút.
"Đừng có lo. Kiên trì vẽ thể nào cũng làm được thôi. Vậy cô họa sĩ nhỏ sau giờ học có ra đây nữa không nè?"
"Có chứ, lại phải phiền chị rồi."
"Không sao, nhưng không có được tập trung vẽ quá mà lơ là việc học đâu đó."
"Dạ, dạ ...". Tôi cố tình nói với giọng châm chọc uể oải. Chị hai cùng tôi đi bộ tới bãi đỗ xe máy để tôi lấy xe của mình – một chiếc xe cũ từng là sở hữu của chị hồi chị còn học ở đây. Chạy xe máy không những tiện lợi mà còn thoải mái nữa, thật ra tôi ngờ rằng lý do duy nhất khiến chị hai phải đi theo tôi vào mỗi bữa sáng là để phụ giúp tôi chỗ chở đống giá vẽ và toan cồng kềnh của tôi mà thôi.
Cả tôi và chị đều sẽ đến trường. Tôi nhìn vào đồng hồ khi vừa tra chìa khóa vào xe. Sáu giờ ba mươi. Tốt! Vẫn còn kịp, giờ này cậu ấy vẫn còn đang trên đường. Tôi nhanh chóng đề máy chạy theo chị và chào tạm biệt con đập tĩnh lặng bấy giờ đã khuất đi.
Bước vào tiểu học cũng là lúc tôi được thấy tận mắt chị hai đứng trước giá vẽ ngoài trời, và lập tức tôi đã mê mẩn cái cách chị vẽ nên những bức tranh sống động tựa như ngay trước mắt tôi. Dù bận bịu học nhưng chị vẫn dành thời gian để hướng dẫn và dìu dắt tôi những bước đi đầu tiên. Hóa ra ban đầu cũng chưa cần đến tài năng thiên bẩm hay khổ luyện gì cho lắm; tất cả những gì chị bắt tôi làm chỉ là học cách 'nhìn'. Suốt ba tháng ròng rã từ lúc sương sớm còn đọng trên cỏ đến khi nắng xế đổ dài, tôi chỉ quẩn quanh với việc quan sát sự di chuyển của màu sắc và nhẫn nại pha đi pha lại những bảng màu đơn sắc cho đến khi chúng trở nên thuần thục.
Thú thật, hồi đó tôi đã từng hoài nghi phương pháp của chị khi nhìn thấy các họa sĩ thực thụ ngoài kia làm việc. Sao mà họ bạo dạn đến thế? Họ chẳng cần pha trộn cầu kỳ mà dám dùng nhành nhánh cây đập thẳng những mảng màu nguyên bản lên toan, tạo nên những bề mặt xù xì đầy sức sống. Cái phong thái tự tin, những cái vung tay dứt khoát để bắt trọn linh hồn cảnh vật vào trong khung gỗ ấy đã thực sự mê hoặc tôi, khiến tôi cảm thấy những bài tập pha màu của mình sao mà tù túng quá chừng!
Suy đi tính lại, thế là vào mùa hè năm lớp 5, tôi đã lấy hết can đảm gật đầu với người bán họa cụ để rước về bộ đồ nghề chuyên nghiệp. Đứng giữa màu nước và sơn dầu, một đứa lúc nào cũng nơm nớp sợ mắc lỗi như tôi đã chọn sơn dầu như một chiếc phao cứu sinh. Đơn giản vì nó cho phép tôi được che đậy sai lầm: vẽ hỏng thì cạo đi, hoặc chồng một lớp màu mới lên để giấu nhẹm cái cũ, điều mà màu nước đanh thép không bao giờ dung thứ.
May mắn là vài bức phác thảo đầu tiên trôi chảy đến lạ, khiến nỗi lo trong tôi tạm lắng xuống. Nhưng rồi, chính cái đặc tính 'lâu khô' của nó lại trở thành nỗi ám ảnh mới. Suốt sáu tháng ròng, tôi rơi vào cái vòng luẩn quẩn của sự bất an: Bức tranh cứ ướt mãi không chịu khô để vẽ tiếp, còn tôi thì cứ nhìn chằm chằm vào nó mà suy diễn đủ thứ viễn cảnh tồi tệ. Không biết bao lần tôi đã tự dằn vặt: 'Hay là mình chọn sai rồi? Có nên quay về với màu nước cho nhẹ đầu không?'. Nhưng cứ nghĩ đến việc bỏ dở đống họa cụ đắt tiền này thì lại thấy tiếc, thấy sợ mình bị đánh giá là kẻ cả thèm chóng chán. Cứ thế, tôi mắc kẹt giữa cái 'muốn' và cái 'sợ', ngoảnh đi ngoảnh lại, nỗi âu lo đã ngốn sạch cả một năm tuổi trẻ của tôi lúc nào không hay...Một mùa hè nữa lại đến...
Phựt! Đám chim sẻ đang láu táu trên cành cây bị một phen xáo động khi một âm thanh đanh gọn phát ra. Một quả bóng đá vừa đập mạnh vào xà ngang sắt rồi bay vào lưới. Sáu giờ bốn mươi phút, tôi đang đứng trong cái bóng khổng lồ của căn tin mà ngoái trộm ra sân banh. Hôm nay cũng vậy, cậu ta lại chơi đá bóng cùng đám bạn. Sáng nào cậu ấy cũng ra đây chơi với những người bạn khác, không giống như tôi, một mình vẽ vời. Cậu ấy chơi rất vui vẻ, từ hành động qua người cho đến cú đá đều toát lên một luồng sinh khí mạnh mẽ. Mỗi nhịp bóng lăn và cả nụ cười ấy như xua đi một phần sự mệt mỏi và bế tắc của tôi sau một buổi sáng nỗ lực vẽ vời thất bại. Giờ đây, tôi thấy nhẹ nhõm đến lạ lùng.
Nếu để cậu ấy phát hiện chắc là ngượng chín mặt đi ấy! Thế nên tôi chọn cách "quan sát từ xa" – một cụm từ nghe nghệ thuật hơn hẳn cái việc "nhìn lén".
Ngắm được một lúc, tôi quay lại để chỉnh trang đầu tóc, vuốt lại nếp áo đồng phục trắng cho phẳng phiu, che đi mấy vệt màu sơn dầu còn sót lại trên tay áo. Cuối cùng, tôi hít một hơi thật dài và tự nhắc mình:
Cố lên! Cứ tỏ ra tự nhiên là được!
Tôi bắt đầu bước chầm chậm vào lối đi cạnh sân bóng. "Chào buổi sáng." Mỗi khi thấy tôi, cậu ấy đều dừng bóng mà chào trước. Aaah! Thật là bảnh! Giọng của cậu ấy trầm ấm quá đi!
Tim tôi chắc phải đang nhảy loạn xạ chứ chẳng chơi, nhưng tôi đủ khả năng để giả bộ bình tĩnh và nhìn cậu ấy theo kiểu vô-tình-ngang-qua-đây-thôi. Tôi để dành vài giây cho cái thanh quản kịp chuẩn bị trước khi thốt lên với âm điệu rành mạch quá mức:
"Chào buổi sáng, Phú hôm nay cậu đá bóng trễ nhỉ?"
"Hiền cũng thế còn gì, vừa mới vẽ tranh về phải không?"
"Ừm."
"Vẽ tranh vào sáng sớm thế này, Hiền thật chăm quá."
"Tớ... ơ...", tự dưng cậu ấy lại khen mình. Ôi không! Chẳng tốt chút nào. Kiểu gì mình cũng lại đỏ mặt cho mà xem, tiêu rồi!
"Khô... không hẳn đâu... Ehehe... gặp lại sau nhé Phú!". Tôi chạy cái vèo, vừa xấu hổ vì cái điệu cười kì cục của mình vừa thấy hạnh phúc âm ỉ.
"Ừm, gặp lại sau," tiếng cậu ấy gọi vói theo làm tim tôi mới vừa được trở lại tốc độ bình thường đã loạn nhịp lên.
Lo âu thứ hai: từ lâu tôi đã thích đơn phương Phú.
Tính ra trong suốt mấy năm tiểu học tới phổ thông, tôi đã tiến được đến cái mức được trò chuyện gần gũi mà không còn gượng gạo như trước. Nhưng gần đây, nó nhanh chóng trở thành một lo âu khi tôi nhận ra còn chưa đầy ba tháng nữa là cả hai sẽ tốt nghiệp.
Và điều lo âu sau cùng chính xác là tờ giấy nằm ngay trước mặt tôi đây. Tám giờ ba mươi lăm phút sáng, sắp sửa hết tiết và chúng tôi đang nghe những lời dặn cuối cùng từ thầy chủ nhiệm:"Nghe này các em, đã đến lúc các em phải quyết định tương lai của mình rồi. Các em phải bàn bạc thật kĩ với gia đình vì đây là vấn đề khá quan trọng!"
Tờ giấy ở trước mặt in một hàng chữ hoa lớn: "PHIẾU XÉT TUYỂN ĐẠI HỌC", và tôi chỉ mới điền thông tin cơ bản của tôi.
Mười một giờ năm mươi, giờ ra về. Giai điệu phát ra từ loa trường hôm nay hơi quen, hình như đã nghe ở đâu rồi thì phải? Trong đầu tôi bỗng xuất hiện hình ảnh đôi bạn trẻ cùng nhau nắm tay đi dạo phố phường... hoài niệm kiểu quái gì thế này? Tôi đành từ bỏ nỗ lực vô ích nhằm nhớ lại tên bản nhạc mà tập trung vào hộp cơm tấm sườn bỉ chả của cô hai. Cô Hai thật là tài! Mùi sườn nướng mật ong thơm nức mũi quyện với vị béo ngậy của miếng chả trứng và sợi bì giòn sần sật, thêm chút mỡ hành xanh mướt trải đều trên lớp cơm tấm dẻo thơm. Cái hương vị đậm đà ấy như một "liều thuốc" tức thời, làm dịu đi cái cơ thể đang rã rời vì phải ngồi im một chỗ suốt hơn ba tiếng đồng hồ. Khi tâm trí vừa kịp đáp xuống mặt đất, tôi đã nhìn thấy hai nhỏ bạn, Như và Nhi đang ngồi đối diện bàn luận sôi nổi:
"Nghe nói có người thi vào Đại học Tây Nguyên cơ đấy!"
"Hả?"
"Ý cậu là ai?"
"Thì mấy đứa lớp chọn ấy, toàn thiên tài cả."
Nghe đến "lớp chọn" làm tôi hơi chột dạ. Phúc cũng ở trong lớp đó – lớp của những người chắc chắn sẽ vào Đại học top đầu. Tôi thuộc lớp bình thường, lớp bình thường ít chẳng dám mơ tới những trường top. Tôi chưa bao giờ dám hỏi Phúc về chuyện này, vì hầu như chắc chắn cậu ấy sẽ vô trường nào rồi. Cảm giác trong tôi luôn nói rằng cậu ấy không thuộc về vùng quê nhỏ bé này. Chẳng biết từ lúc nào miếng sườn của tôi đang ăn tự dưng lạnh ngắt và nhạt nhẽo đến kinh ngạc.
"Hiền thì sao?", Như đột nhiên hỏi.
"Có tính vô trường top luôn không?", Nhi bồi thêm. Hai câu hỏi đến quá nhanh khiến tôi tôi chưa chuẩn bị tinh thần, đành im re.
"Kiểu này là chưa thèm nghĩ ngợi gì rồi", Nhi tỏ vẻ thất vọng.
"Cậu toàn để đầu óc ở chỗ Phú thôi!", Như trêu chọc.
"Nhưng nghe bảo người ta có bạn gái ở đâu đó trên Tây Nguyên rồi mà?", câu nói của Như làm tôi khựng lại.
"Không có đâu!" Tôi gắt lên và bắt gặp hai đứa bạn đang cười khúc khích.
"Mà thật tuyệt, khi mà bộ ba chúng ta lại được chung lớp lần nữa." Nhi mỉm cười đáp.
"Ôi, không thèm nói chuyện với mấy cậu nữa, đi mua sữa đây!". Tôi đứng phắt dậy, bước thẳng ra ngoài hành lang. Vắng hoe, và lúc nào cũng có gió thổi nhè nhẹ qua những tấm áp phích giới thiệu về buổi lễ hội. Tôi biết tụi nó chỉ khoái giỡn, nhưng thực sự "Chuyện người bạn gái bí ẩn của Phú" là một đề tài tôi không chịu nổi.
Sáu tháng cho mọi nỗ lực xích lại gần cậu ấy, liệu thế có đủ? Ôi, trong sáu tháng tới, tôi muốn mình có thể hoàn thành bức tranh sơn dầu đó. Tôi muốn Phú tận mắt chứng kiến tôi bắt trọn được linh hồn của hội họa, chứng kiến tôi tạo ra một kiệt tác thực sự. Cậu ấy phải được xem những gì tuyệt vời nhất mà tôi đã nỗ lực để có được.
Nhưng dường như cậu ấy thuộc tuýp người không bao giờ chịu đứng yên một chỗ. Cậu ấy nhìn về phía chân trời xa xôi kia, còn tôi thì mãi loay hoay với bảng pha màu.
Vậy đấy, cả ba nỗi lo âu của tôi nói chung đều chỉ xoay quanh một con người. Và thế là một quyết định đã được đưa ra:
tôi – Hiền này sẽ thổ lộ tình cảm với Phú vào cái ngày tôi có thể vẽ xong bức tranh kia...
Sáu giờ chiều. Ánh nắng quái chiều nhuộm đỏ rực cả một góc sân trường, biến những dãy hành lang dài hun hút thành một mê cung của những mảng sáng tối đối lập. Lúc này có thể nghe rõ âm thanh của những con dế bắt đầu rục rịch dưới thảm cỏ. Ánh sáng lúc này đẹp đến mức huyền bí, nó phủ lên những búi mây nhỏ lững lờ trôi về phương Tây một sắc vàng kim lộng lẫy. Gió bắt đầu mang theo hơi lạnh, dù ánh nắng vẫn còn đó nhưng màn đêm đã bắt đầu xao động nên chẳng thể vẽ vời gì thêm được nữa. Một buổi tập vẽ nữa của tôi trôi qua với một đống toan bị cạo nhem nhuốc vì không bắt kịp nhịp điệu của sắc màu... Cái ngày tôi có thể tự tin đặt bút vẽ trọn vẹn được cái hồn của tôi ngày trước xem ra vẫn còn xa quá!
Lần thứ hai trong ngày tôi núp dưới cái bóng cây khổng lồ của ngôi trường, kì này là nhìn trộm vào bãi gửi xe. Như mọi hôm, giờ này học sinh đã ra về gần hết, chỉ còn le que vài ba chiếc xe, xe đạp nằm lẻ loi. Mọi lớp học của trường chính thức đều đã kết thúc. Nói trắng ra là tôi đang chờ Phúc vào lấy xe. Chẳng biết cậu ấy còn học thêm ngoài giờ hay đã về từ sớm rồi. Dù sao tôi vẫn quyết tâm chờ thêm chút nữa vì tôi chẳng muốn khép lại một ngày chỉ toàn là những nhát cọ thất bại.
Nếu tôi chỉ phải lo lắng về ba cái lo âu kia thì đời đã dễ thở biết là bao. Vẫn có những vấn đề "lớn nhì" mà một trong số đó là làn da sạm đen vì phơi nắng của tôi. Da tôi dường như miễn dịch với mọi loại kem bảo vệ, nên suốt mấy năm trung học tôi luôn giữ vị trí "nữ hoàng da bánh mật" của lớp. Chị hai bảo là bình thường vì tôi hay ngồi vẽ ngoài trời, nhưng da chị đâu có bị đen? Còn Như và Nhi thì luôn miệng bảo màu da sậm trông rất khỏe khoắn và tôn vẻ nghệ sĩ của tôi, rồi lại phàn nàn rằng chẳng biết từ lúc nào tôi lại đâm ra ghét nó. Tụi nó không nhớ dùm cho một điều, rằng Phúc có làn da thật trắng, trắng tự nhiên và cậu ấy rất chi là bảnh trai!
Những vấn đề hơi to tiếp theo bao gồm việc... ngực tôi khá là chậm phát triển (Bất công! Trong khi chị hai ngày càng "nở nang" thì tôi lại chẳng hơn được miếng nào dù đã lớp 12). Tôi không có khiếu ăn mặc, học hành cũng chỉ vớt vát mức trung bình khá. Đến giờ ưu điểm duy nhất là tôi khỏe như trâu, chẳng bao giờ biết bệnh là gì, nhưng cũng vì thế mà tôi không có cơ hội "làm nũng" như mấy bạn nữ khác.
Tôi nghía ra bãi xe lần nữa. Lấy rắc rối ra đếm quả là cách giết thời gian hiệu quả. Đã có một dáng người quá quen thuộc dần tiến đến giữa những vệt nắng dài loang loáng trên mặt đất. Tốt quá, chẳng bõ công đợi nãy giờ! Tôi nhanh chóng hít một hơi thật sâu rồi quay lại bước về bãi đậu xe, cố làm ra vẻ thật tự nhiên...
"Chào Hiền. Giờ mới về à?" Ôi lại cái chất giọng nhẹ nhàng ấy! Dưới ánh hoàng hôn muộn, tôi quan sát cậu ấy khá rõ ràng. Dáng người Phú mảnh khảnh, mái tóc hơi dài trông rất lãng tử. Cậu ấy có dáng đi điềm tĩnh như một nghệ sĩ thực thụ.
"Ơ... Phú cũng về nhà nhỉ?" – Tôi nghe giọng mình run bần bật. Ước gì mình có cách để nói chuyện mà không cần mở miệng!
"Ừm, về chung với mình không?"
Nếu có cái đuôi như một chú cún thì tôi thề rằng nó sẽ vẫy lên điên cuồng vì vui sướng mất! Ơn trời, ngày hôm nay cũng không hỏng bét như tôi đã nghĩ.
Xe chúng tôi chạy dọc theo con đường giữa hồ nước và bụi cỏ lau, bóng đêm đặc quánh bao phủ xung quanh nhưng lại được thắp sáng bởi những đốm đom đóm lập lòe ven bờ. Tôi chạy phía sau trên chiếc xe, hai mắt dán chặt vào tấm lưng của Phú mà nghĩ về vận may hiếm hoi của mình. Một cảm giác nóng bức chợt xộc lên hai cánh mũi, làm chúng phập phồng phản đối hệt như những lúc tôi bị hỏng một mảng màu trên tranh vậy. Chưa bao giờ cảm giác buồn bã và hạnh phúc lại gần nhau đến thế!
Ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã biết Phú khác biệt hoàn toàn với đám con trai trong vùng. Đó là buổi sáng khai giảng năm tôi vào lớp 2. Trong cái không khí hỗn loạn của hàng trăm đứa học sinh đang nháo nhào tìm chỗ tập trung dưới sân trường, tôi – khi đó là một con bé nghịch ngợm, đang mải mê chạy đuổi theo mấy nhỏ bạn – thì "Rầm!".
Tôi va sầm vào một người.
Cú va chạm mạnh đến mức tôi loạng choạng suýt ngã nhào, nhưng một cánh tay đã kịp vươn ra giữ lấy vai tôi. Ngước mắt lên, trước mặt tôi là một cậu bạn lạ hoắc, áo sơ mi trắng tinh khôi, phẳng phiu như vừa mới bóc tem, khác hẳn với bộ dạng nhễ nhại mồ hôi của tôi lúc đó. Phú mỉm cười nhẹ, một nụ cười hiền lành nhưng mang nét gì đó trầm buồn lạ lẫm: "Bạn không sao chứ?"
Chỉ một câu nói thôi mà tôi đứng hình mất vài giây. Giọng nói của cậu ấy điềm tĩnh, ấm và rành mạch – thứ giọng "đàn ông" đặc trưng nghe thật êm tai. Thử là tôi xem, tự dưng bị một đứa lạ hoắc tông sầm vào giữa sân trường đông đúc, kiểu gì tôi cũng đỏ mặt tía tai hoặc la oai oái lên bằng cái giọng trẻ con của mình rồi. Vậy mà Phú lại chững chạc như một phát thanh niên nhí vậy.
Hóa ra cậu ấy học tại trường cơ sở khác chuyển về đây để dự lễ. Bao nhiêu câu hỏi lần đầu tiên tôi đặt ra chỉ dành cho một người: Cậu ấy đã sống thế nào? Tại sao ánh mắt lại xa xăm đến thế? Và rồi ngày lại qua ngày, trước khi tìm được câu trả lời, tôi nhận ra mình đã mến thầm Phú từ cái cú va chạm đó...
Không hề quá lời khi nói Phú có một tác động rất lớn đối với tôi. Suốt mười mấy năm đi học, dù ở đâu hay làm gì, tâm trí tôi cũng luôn dành một góc cho cậu ấy. Tôi tìm kiếm dáng hình Phú ngay cả trong những giấc mơ. Càng lớn, Phú càng tỏ ra là người hòa đồng dễ gần, nhưng thế lại càng hay. Điều đó đồng nghĩa với việc, tôi dễ dàng trò chuyện với cậu ấy.
Dĩ nhiên, nếu tính những từ như "ừm", "à", "chào" là trò chuyện!
Tôi không học chung trường với Phú khi lên cấp hai, việc được vào cùng trường với cậu ấy đối với tôi đã là một phép màu. Ai cũng ngạc nhiên khi một đứa học giỏi như Phú lại chọn trường xã gần nhà thay vì trường chuyên thành phố. Riêng tôi, đó là cơ hội cuối cùng để hiện thực hóa cái khao khát điên rồ: được đứng cạnh cậu ấy trên cùng một bảng danh sách lớp.
Vì mục tiêu đó, tôi đã nhẫn tâm khai tử "hội họa" trong mình. Tôi xếp xó bộ màu sơn dầu từng là hơi thở, từ chối mọi lời rủ rê đi chơi của đám bạn, tự nhốt mình vào bốn bức tường với những con chữ, con số khô khốc. Tôi trở thành một kẻ "mọt sách" đúng nghĩa trong mắt mọi người, tự cô lập và chịu những lời xì xào chỉ để đổi lấy những con điểm cao ngất ngưởng. Tôi cứ ngỡ sự chăm chỉ đến cực đoan ấy sẽ là chiếc vé thông hành đưa tôi vào thế giới của Phú. Nhưng nghiệt ngã thay, dù tôi có nỗ lực đến kiệt quệ, cái tên của tôi và cậu ấy vẫn chưa một lần nằm chung trong một khung hình.
Nhắc lại thì tôi mới nhớ ra, vào năm lớp 10 tôi đã chọn học khối A thay vì các khối năng khiếu V, H hoặc các khối xã hội để theo đuổi ước mơ hội họa. Chắc là vì tôi nghe đâu đó nói Phú sẽ học khối A nên tôi cố sức mình bắt kịp cậu ấy.
Đến năm lớp 12, sự mệt mỏi và nỗi âu lo về một tương lai vô định đã quật ngã tôi. Tôi chợt nhận ra mình đang đuổi theo một ảo ảnh quá sức. Thế là, tôi quyết định buông tay. Tôi bắt đầu quay lại với ước mơ thuở ban đầu, tìm về những vệt màu loang lổ và những buổi tụ tập ồn ào với đám bạn mà tôi từng chối bỏ.
Ôi! thiệt là trớ trêu làm sao, khi tôi quyết định học khối xã hội thì tôi được vô lớp chọn. Tại sao... Tại sao? Tôi không hiểu ban giám hiệu nhà trường dựa vào gì mà sắp xếp tôi vô lớp chọn này nữa? Tại sao lúc trước không cho tôi chung lớp với Phú nhỉ? Mà giá như Phú chọn khối xẫ hội thì... Tôi đã vẽ được hàng vạn bức chân dung về Phú rồi.
Mà thôi kệ vậy! Tôi chọn cách sống cho mình, dù trong lòng vẫn mang theo một vết xước âm ỉ khi biết rằng, trái tim Phú là thứ mà dù có học hành giỏi giang đến đâu, tôi cũng chẳng bao giờ chạm tới được.
Đối với Phú, tôi luôn mang những cảm xúc hạnh phúc đan xen với đau khổ, và đôi khi là cả sự vô vọng...
Bảy giờ tối. Chúng tôi tấp xe vào tiệm tạp hóa của cô Bảy ven đường. Hầu như tuần nào Phú cũng ghé đây vài lần, thế nên tôi cũng "vô tình" tạo cho mình cái thói quen dừng chân ở đây mỗi khi đi cùng cậu ấy. Nhìn từ xa, quán cô Bảy không giống một cửa hàng cho lắm, nó giống một cái kho chứa hạt giống hơn với lô lốc những gói bao bì đủ màu sắc treo lủng lẳng trước hiên. Cô Bảy là một người hiền hậu, lúc nào cũng ngồi trên chiếc ghế mây cũ kỹ. Bước vào trong, mùi nhang muỗi quyện với mùi giấy mới và bánh kẹo tạo nên một thứ không khí rất "quê". Thay vì mấy dãy đĩa CD cũ kỹ, góc tường nhà cô đặt một chiếc radio nhỏ đang rè rè phát một bản nhạc thời xưa cũ thứ âm thanh duy nhất phá tan sự tĩnh lặng của màn đêm bủa vây quanh đây. Hai bóng đèn tuýp trên trần nhà thấp tè tỏa ra ánh sáng trắng xanh lẻ loi, đứng chơ vơ giữa khung cảnh trời đêm hoang vắng của vùng ngoại ô.
Phú luôn chỉ mua một hộp cà phê sữa. Và như mọi lần khác, tôi chẳng biết mua cái nào. Tôi muốn chọn thứ gì đó khiến mình "dễ thương" một tí và chắc chắn không thể là cà phê vì sẽ làm cậu ấy chú ý (mặc dù tôi muốn Phú để ý lắm chứ, hây!). Sữa tươi thì quá trẻ con, mấy hộp nước trái cây đằng kia trông cũng bắt mắt nhưng tôi lại không ưa nổi cái vị nhân tạo của nó. Tôi đã định thử món "Cocktail" nhưng nhìn cả đống nguyên liệu của nó lại thấy rờn rợn sao ấy....Thế là mỗi khi tôi dừng lại quá lâu để chọn đồ uống Phú lại nhẹ nhàng nói "Hiền, tớ đợi cậu ở ngoài nhé" rồi đi ra tính tiền. Không còn Phú bên cạnh thì đứng đây cũng chẳng ích gì, nên tôi đành vơ đại một ly sâm dứa. Lại là sâm dứa! Cứ ba bốn ly mỗi ngày như thế không khéo một phần hai mươi cơ thể mình làm bằng sâm dứa mất thôi!
Tôi nhanh chóng tính tiền rồi bước ra ngoài. Phú đang ngồi vắt vẻo trên yên xe, chiếc điện thoại trên tay cậu ấy đang sáng đèn. Ngoài này tối hơn hẳn trong quán. Cơn gió mạnh từ phía hồ đã cuốn sạch những cụm mây màu hồng tím sót lại, làm những hàng cỏ lau rung lên xao xác hòa với bản đồng ca của đám dế núp trong thảm cỏ cao quá đầu người. Ánh sáng xanh nhạt từ màn hình hắt lên nửa khuôn mặt của Phú, làm lộ ra một nét trầm mặc xa xăm. Cậu ấy đang lạc vào một thế giới của những dòng tin nhắn mà tôi chẳng cách nào chạm tới được...
Tôi cố gắng nặn ra một nụ cười và đi về phía chiếc xe. Thấy tôi cậu ấy liền nhét chiếc điện thoại vào túi và nói:
"Ồ, Hiền mua gì thế?"
"Tớ chẳng biết chọn cái nào nên lại dính với chai sâm dứa này thôi. Chai thứ tư trong ngày rồi đấy!"
"Dễ sợ. Nhắc mới nhớ ở trường cậu cũng toàn uống loại này. Hiền thích sâm dứa lắm nhỉ?"
Trong khi vừa uống vừa trò chuyện với Phú, sự chú ý của tôi hướng về cái di động nằm sâu trong chiếc túi thể thao tôi đang đeo sau lưng. Biết bao lần tôi mong ước những tin nhắn Phú thường soạn mỗi lúc rảnh rỗi sẽ được gửi đến cái máy đó. Hiển nhiên điều đó chưa từng xảy ra, và vì thế tôi cũng chẳng kiếm được lí do để nhắn tin cho cậu ấy. Tóm lại mấy chiếc điện thoại không giúp ích được gì nên tôi đành thôi nghĩ ngợi về nó để tập trung trò chuyện với cậu ấy.
Vì sao đầu tiên đã xuất hiện trên nền trời giờ đây đã ngả màu xanh sậm. Vậy là một cơ hội nữa trôi qua mà chẳng tiến triển được gì. Thất bại của ngày hôm nay khiến tôi muốn khóc, nhưng lại củng cố mình phải biết quyết tâm nhiều hơn nữa.
Sớm muộn gì Phú cũng phải biết được tình cảm của mình dành cho cậu ấy!